Thư Thánh Vương Hy Chi và bức Lan Đình Tập Tự
![]()
Có thể lưu lại dấu ấn của chính mình trong dòng sông dài lịch sử là điều mà nhiều người vẫn hằng mong ước, và cũng có lẽ trong số ấy các văn nhân mặc khách là những người được ông trời ưu ái trao cho sứ mệnh kế thừa văn hóa. Tư tưởng và ước mơ của họ, qua nét bút thành văn rồi được lưu truyền qua hàng trăm thế hệ. Đôi khi chỉ cần với một câu văn thôi họ cũng có thể khiến hậu nhân như được sống trong cảnh cũ, như được trò chuyện cùng người xưa.
Vào thời Trung Quốc cổ đại cảm nhận ấy lại càng sâu sắc hơn. Bởi lẽ vào thuở ấy viết chữ chính là một loại hình nghệ thuật. Từ kẻ sĩ nghèo khó đến bậc đế vương, ai ai cũng đều say mê trước vẻ đẹp hòa quyện giữa thư và hoạ khi con người gửi gắm tâm tư và triết lý nhân sinh trong con chữ. Người ta gọi đó là thư pháp.
Ấy thế mà với Vương Hy Chi, người được thế nhân tôn là “Thư Thánh”, thì những bút tích thực sự còn truyền lại đến ngày nay lại hiếm hoi như sao mai buổi sớm. Vương Hy Chi (301-361) là danh nhân thời Đông Tấn, nét chữ của ông từng khiến xã hội đương thời say mê, người người thi nhau mô phỏng theo, những gì nhìn thấy ngày nay phần lớn là do hậu nhân sao chép lại nhưng vẫn đủ để chúng ta cảm nhận được phong thái và ý vị của ông.
Tác phẩm nổi tiếng nhất của Vương Hy Chi chính là bản “Lan Đình Tập Tự” - lời tựa cho buổi hội tụ tao nhã cùng các bằng hữu văn nhân - với 324 con chữ, đồng thời cũng là kiệt tác bất hủ trong lịch sử thư pháp.
Bài tựa này còn là nguồn cảm hứng cho vở múa “Lan Đình Thư Tự” (biểu diễn năm 2016) của đoàn nghệ thuật Shen Yun.
Bậc Thư Thánh
Vương Hy Chi sinh trong một gia đình nho học, từ nhỏ đã theo nữ thư pháp gia Vệ Thước (Vệ phu nhân) học chữ. Khi mới 12 tuổi ông đã đạt đến trình độ “tinh diệu, nắm hết tinh hoa của thầy”. Ông chăm chỉ luyện tập viết chữ bên ao nước, thường quên ăn quên ngủ, còn bút nghiên, giấy, mực thì vương vãi khắp trong nhà ngoài nhà, ở đâu ông cũng có thể học. Tương truyền rằng ông hay rửa bút trong ao, lâu dần nước ao hóa thành màu mực.
Vương Hy Chi tính tình chân thật, không màng danh vọng, nhưng rốt cuộc vẫn được người đời tôn sùng. Có một lần ông gặp một đạo sĩ chăn ngỗng và cảm thấy ưa thích đàn ngỗng, muốn mua lại. Đạo sĩ không bán nhưng lại đồng ý đổi đàn ngỗng lấy bản chép tay Đạo Đức Kinh. Vương Hy Chi liền dùng bút của mình viết chữ để đổi lấy ngỗng, về sau trở thành một giai thoại nổi tiếng.
Điểm độc đáo trong nghệ thuật thư pháp của Vương Hy Chi nằm ở chỗ ông tinh thông nhiều thể chữ: tính nghiêm chỉnh của khải thư, mềm mại của hành thư, sự tung hoành của thảo thư, tất cả đều là sở trường. Thông thường một người phải bỏ ra cả đời mới có thể đạt đến trình độ tinh thông một thể, còn Vương Hy Chi lại nắm vững và dung hoà hết thảy, từ đó đặt nền móng cho sự hoàn thiện của nghệ thuật thư pháp sau này.
Năm con trai của ông đều tiếp nối phong cách thư pháp từ cha, trong đó người con út Vương Hiến Chi có danh tiếng lẫy lừng, thậm chí có lúc vượt cả phụ thân. Thế nhưng về sau hậu thế vẫn tôn Vương Hy Chi là Thư Thánh (bậc thánh về thư pháp).
Bản Lan Đình Tập Tự
Vào ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch năm Vĩnh Hòa thứ chín thời Đông Tấn (năm 353 SCN), tại Lan Đình, núi Cối Kê, Sơn Âm, Vương Hy Chi cùng 41 vị hiền sĩ tụ hội, tiến hành lễ tu hễ (1). Hôm ấy tiết trời quang đãng, gió xuân mát lành, trúc xanh rợp bóng, sông núi giao hoà, mọi người cùng chơi trò “khúc thuỷ lưu thương” (đưa chén rượu trôi theo dòng), chén dừng trước ai thì người ấy sẽ làm thơ. Hôm ấy có tất cả 37 bài thơ ra đời.
Vào lúc mọi người đã nâng chén thành thơ, Vương Hy Chi liền vung bút viết lời tựa, người đời sau tôn xưng là “Lan Đình Tập Tự”. Tuy chỉ là một bài ghi chép lại sự việc nhưng ý cảnh sâu xa, bút pháp tuyệt mỹ. Đường Thái Tông vô cùng trân quý bài Lan Đình Tự nên sai người khắc vào đá, thậm chí người ta còn truyền rằng vua Đường đã đem bút tích thật chôn theo mình vào Chiêu lăng.
Trong bài tự ấy có một câu được truyền tụng qua muôn thuở: “Người sau nhìn nay, cũng như người đời nay nhìn người đời xưa. Thật đáng buồn thay!”
Vương Hy Chi cảm khái đời người vô thường, tiệc vui khó lặp lại. Như chính ông viết: “tử sinh là việc lớn, há chẳng đau lòng sao”, thế nên ông đã đem niềm cảm khái trong lúc ấy gửi gắm vào bút mực. Trong hơn 300 chữ của bài tự thì chữ chi 之 xuất hiện những hai mươi mấy lần mà chẳng có chữ nào giống nhau, mỗi chữ mỗi vẻ. Cái diệu của thư pháp chính nằm ở chỗ ấy.
![]()
Sau đây chúng ta hãy cùng thưởng lãm toàn văn bài Lan Đình Tập Tự:
Vĩnh Hòa cửu niên, tuế tại Quý Sửu, mộ xuân chi sơ, hội ư Cối Kê Sơn Âm chi Lan Đình, Tu Hễ sự dã. Quần hiền tất chí, thiếu trưởng hàm tập. Thử địa hữu sùng sơn tuấn lĩnh, mậu lâm tu trúc; hựu hữu thanh lưu kích thoan, ánh đới tả hữu. Dẫn dĩ vi lưu thương khúc thuỷ, liệt tọa kỳ thứ; tuy vô ti trúc quản huyền chi thịnh, nhất thương nhất vịnh, diệc túc dĩ sướng tự u tình.
Thị nhật dã, thiên lãng khí thanh, huệ phong hòa sướng; ngưỡng quan vũ trụ chi đại, phủ sát phẩm loại chi thịnh; sở dĩ du mục sính hoài, túc dĩ cực thị thính chi ngu, tín khả lạc dã.
Phù nhân chi tương dữ, phủ ngưỡng nhất thế, hoặc thủ chư hoài bão, ngộ ngôn nhất thất chi nội; hoặc nhân kí sở thác, phóng lãng hình hài chi ngoại. Tuy thú xá vạn thù, tĩnh táo bất đồng; đương kỳ hân ư sở ngộ, tạm đắc ư kỉ, khoái nhiên tự túc, bất tri lão chi tương chí. Cập kì sở chi kí quyện, tình tuỳ sự thiên, cảm khái hệ chi hĩ. Hướng chi sở hân, phủ ngưỡng chi gian, dĩ vi trần tích, do bất năng bất dĩ chi hứng hoài; huống tu đoản tùy hoá, chung kỳ ư tận. Cổ nhân vân: “Tử sinh diệc đại hĩ.” Khởi bất thống tai!
Mỗi lãm tích nhân hứng cảm chi do, nhược hợp nhất khế; vị thường bất lâm văn ta điệu, bất năng dụ chi ư hoài. Cố tri nhất tử sinh vi hư đản, tề Bành Thương vi vọng tác. Hậu chi thị kim, diệc do kim chi thị tích, bi phù! Cố liệt tự thì nhân, lục kỳ sở thuật, tuy thế thù sự dị, sở dĩ hứng hoài,kì trí nhất dã. Hậu chi lãm giả, diệc tương hữu cảm ư tư văn.
Tạm dịch:
Năm Vĩnh Hòa thứ chín, niên hiệu Quý Sửu, vào đầu tiết cuối xuân, cùng nhau tụ hội ở Lan Đình, Sơn Âm, đất Cối Kê, để làm lễ tu hễ. Hiền sĩ đều tới, già trẻ cùng tề tựu.
Chốn này có núi non cao vời, trập trùng liên tiếp, rừng rậm xanh tươi, trúc thẳng thanh cao; lại có dòng nước trong veo lấp loáng, uốn quanh đôi bờ. Dẫn dòng nước quanh co, làm cuộc “lưu thương khúc thủy” (2), thả chén rượu trôi theo dòng, rồi ngồi theo thứ tự dọc bên bờ ấy. Tuy không có tiếng đàn tơ sáo trúc vang rộn, nhưng mỗi chén mỗi bài thơ, cũng đủ để giải bày ẩn ý sâu xa cao nhã trong lòng.
Ngày hôm ấy, trời trong sáng, khí lành lan tỏa, gió xuân dịu nhẹ, vạn vật tươi tốt. Ngẩng lên nhìn vũ trụ mênh mông, cúi xuống thấy vạn vật sung thịnh. Bởi thế, phóng xa tầm mắt, mà mở rộng cõi lòng, tận cùng cái vui của nhìn nghe, thật là vui thay.
Việc người với người gặp nhau chỉ là thoáng chốc trong cuộc đời, có kẻ thì giữ kín hoài bão trong lòng, có người thì vì sự ký thác mà nói hết tâm tư ra bên ngoài. Dù thú hướng muôn vàn khác biệt, tĩnh động chẳng đồng, nhưng khi hân hoan gặp điều hợp ý, tạm được như ý thì vui sướng, tự cho là đủ, chẳng biết tuổi già đã đến gần. Đợi đến khi tâm tình mòn mỏi, tình theo sự đổi, cảm khái theo đó mà sinh. Những điều thuở trước làm vui, chỉ trong chốc lát, đã thành dấu vết xưa; tuy vậy lòng vẫn không khỏi bồi hồi. Huống chi số mệnh dài ngắn tùy theo tạo hóa, cuối cùng đều quy về cõi tận. Cổ nhân có câu: “Tử sinh là việc lớn”. Há chẳng đau lòng sao!
Mỗi lần xem nguyên cớ làm người xưa sinh cảm hứng, dường như tâm tình đồng nhịp với họ. Chưa từng không vì đó mà thở than tiếc nuối, nhưng chẳng thể giãi bày hết trong lòng. Mới biết rằng coi sống chết như một là giả vọng, cho rằng tuổi thọ của Bành Tổ cùng Thương Sinh (3) ngang nhau chỉ là lời hư dối. Người sau nhìn nay, cũng như người đời nay nhìn người đời xưa. Thương thay! Vậy đây theo thứ tự các thi nhân mà thuật lại điều họ tỏ bày. Dù đời khác, chuyện khác, nhưng nỗi cảm hoài, kỳ lẽ vốn một mà thôi. Người đời sau đọc đến đây, ắt cũng sẽ cảm động bởi bài văn này.
Với bài tựa này Vương Hy Chi không phải viết cho lịch sử, cũng không chỉ để tự giải khuây, mà là ông muốn gửi gắm những cảm ngộ về nhân sinh của mình vào trong giấy mực, để đối thoại cùng hậu thế. Trăm nghìn năm sau, qua nét thi văn ta vẫn có thể cảm nhận được tấm lòng của Vương Hy Chi cũng như có thể đồng điệu với tâm hồn ông.
“Người sau nhìn nay, cũng như người đời nay nhìn người đời xưa”. Khi đọc những dòng chữ ấy, ta hiểu rằng bạn và tôi, xưa và nay, kỳ thực vốn chẳng có gì khác biệt.
Ghi chú:
(1) Lễ “hễ” là lễ trừ tà, tẩy uế gồm có lễ xuân hễ tổ chức vào ngày mồng 3 tháng 3 âm lịch và thu hễ tổ chức vào 14 tháng 7 âm lịch. Thuở xưa khi vào cuối xuân khí trời chuyển ấm, người ta thường ra nơi bờ sông, suối làm lễ tẩy uế, tắm rửa, theo tín ngưỡng thì để trừ đi tà khí của mùa đông lạnh khi khí trời ấm lên. Sang đến đời Lục triều thì thì ý nghĩa trừ tà mất đi, buổi lễ trở thành một dịp họp mặt của các văn nhân thi sĩ.
(2) Lưu thương khúc thủy: một phong tục có từ đời nhà Chu, vào đầu tháng 3, mọi người ngồi hai bên bờ dòng nước và thả những chén rượu xuống dòng nước uốn lượn, chén trôi tới ai thì người đó uống.
(3)Bành Tổ: một nhân vật trong truyền thuyết Trung Hoa được cho là sống lâu gần 800 tuổi
Thương Sinh: trẻ chết non.
Nguồn: shenyuncollections.com