Thiên Kỷ Đại Cát

Chiêu Quân xuất tái - câu chuyện truyền kỳ lưu danh sử sách

15 tháng 12 2025
THIÊN KỶ ĐẠI CÁT

Trung Quốc vào thời Tây Hán có xuất hiện một người phụ nữ với vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành và tấm lòng vị tha đã mang đến hòa bình và phồn vinh cho người dân Hung Nô và Trung Nguyên trong nửa thế kỷ. Hậu thế lưu truyền hơn ngàn áng thơ văn viết về bà, mỹ nhân lạc nhạn trong câu nói “trầm ngư lạc nhạn, bế nguyệt tu hoa” chính là chỉ bà. Người phụ nữ được sử sách lưu danh này chính là Vương Chiêu Quân, một trong tứ đại mỹ nhân. Năm 2022 đoàn nghệ thuật Shen Yun đã tái hiện lại câu chuyện truyền kỳ ấy qua vở kịch múa “Vương Chiêu Quân”.

Vương Tường nhập cung Hán

Vương Chiêu Quân, tên thật là Vương Tường, tự Chiêu Quân, người làng Tử Quy tỉnh Hồ Bắc, sống vào thời Tây Hán. Đến thời Tấn, vì để tránh phạm húy với Vũ hoàng đế Tư Mã Chiêu, người ta đã sửa tên gọi Chiêu Quân thành Minh phi. Tương truyền khi bà ra đời, Vương phu nhân mộng thấy có vầng trăng sáng rơi vào trong ngực, không lâu sau thì hạ sinh Chiêu Quân nên đã đặt tên lúc nhỏ của bà là Hạo Nguyệt (nghĩa là trăng sáng).

Chiêu Quân thiên sinh tư chất thông minh, dung mạo xinh đẹp, khi mới lên mười tuổi đã biết ngâm thơ gảy đàn. Vẻ đẹp và trí tuệ của nàng vang danh khắp một vùng, về sau thì được tuyển vào cung Hán.

Theo ghi chép trong sách Họa Công Khí Thị do đạo sĩ thời Đông Tấn Cát Hồng biên soạn, Hán Nguyên Đế có rất nhiều cung phi trong hậu cung, không thể lần lượt triệu kiến từng người, nên đã sai họa công vẽ chân dung rồi căn cứ vào dung mạo trong tranh để quyết định có triệu vào sủng hạnh hay không. Vì vậy tất cả cung nữ đều hối lộ cho các họa công, nhiều thì đến mười vạn tiền, ít nhất cũng năm vạn. Duy chỉ có Vương Tường là người phẩm hạnh xuất chúng, không chịu hối lộ, nên trước giờ chưa từng được Nguyên Đế chú ý đến.

Lúc bấy giờ, triều Hán và nước Hung Nô phương Bắc đã trải qua hơn một trăm năm chiến tranh. Đến thời Hán Nguyên Đế, quốc lực nhà Hán ngày càng hùng mạnh, dân chúng càng mong muốn được sống trong những ngày tháng yên ổn. Theo ghi chép trong sách Tư trị thông giám, vào năm 35 TCN, thiền vu Hô Hàn Tà đã thống nhất Hung Nô, đem thủ cấp kẻ địch của mình là thiền vu Chất Chi gửi đến Trường An, dường như có ý muốn uy hiếp vua tôi nhà Hán. Không lâu sau, thiền vu Hô Hàn Tà đến Trường An triều kiến Hán Nguyên Đế, xin được kết duyên hòa thân. Lúc này, nếu không khéo xử lý mối quan hệ với đất nước Hung Nô hùng mạnh thì ắt sẽ gây ra mối đe dọa to lớn cho sự yên bình của Trung Nguyên.

Vậy nên Hán Nguyên Đế đã chấp thuận yêu cầu của Hô Hàn Tà, rồi cùng các đại thần dựa theo tranh chân dung chọn ra một người từ hậu cung để gả cho thiền vu. Cuối cùng, họ chọn Chiêu Quân - người mà nhà vua chưa từng gặp mặt - và phong nàng làm công chúa Vĩnh An để thực hiện cuộc hòa thân. Theo ghi chép trong Hán Thư, Nguyên Đế còn đổi niên hiệu năm đó thành Cánh Ninh nguyên niên, điều đó đủ thấy ông hết sức coi trọng lần hòa thân này.

Chiêu Quân xuất tái

Khi Chiêu Quân sắp lên đường, Hán Nguyên Đế mới cho triệu kiến nàng. Theo sách Hậu Hán thư ghi chép, Chiêu Quân “dung mạo xinh đẹp, trang sức lộng lẫy, làm cung điện nhà Hán rực sáng”. Lúc này Nguyên Đế mới nhận ra cô gái với lời lẽ đoan trang, cử chỉ tao nhã này thật là một giai nhân hiếm gặp.

Tuy Nguyên Đế rất hối hận nhưng không thể nào thất tín với Hung Nô, nên đành dứt ruột cắt tình, để Chiêu Quân gả về phương Bắc xa xôi, từ đó mỗi người một phương trời cách biệt. “Họa đồ tỉnh thức xuân phong diện, hoàn bội không quy nguyệt dạ hồn” (xem bức hoạ, vua Hán phảng phất nhận biết khuôn mặt nàng trong gió xuân, nhưng chỉ còn hồn nàng với hoàn bội (1) trở về dưới trăng), câu thơ của Đỗ Phủ thương nhớ Chiêu Quân đã tả trọn nỗi tiếc nuối cũng như niềm mong nhớ quê hương của vị giai nhân tuyệt thế. Tương truyền rằng trên đường ra khỏi biên ải, Chiêu Quân đã gảy khúc tỳ bà bi thương cảm động lòng người, đến mức đàn nhạn bay ngang qua cũng bị tiếng đàn và vẻ đẹp của nàng làm say mê, quên cả vỗ cánh mà rơi xuống đất.

Sau chuyện này Hán Nguyên Đế cho điều tra việc hối lộ các họa công, những họa công phạm tội thảy bị đem ra chém giữa chợ (trong đó có cả Mao Diên Thọ, người đã vẽ chân dung Vương Chiêu Quân). Sách Họa Công Khí Thị ghi chép, lượng tài sản bị tịch thu lên đến con số khổng lồ, nhân số họa công trong kinh thành vì thế cũng giảm đi đáng kể.

Còn ở phương bắc Vương Chiêu Quân được phong làm Ninh Hồ yên chi, nghĩa là vị vương hậu có thể mang lại sự yên bình cho người Hung Nô. Người phụ nữ yếu mềm xinh đẹp ấy đã nhận lấy sứ mệnh giữ gìn hòa bình, ổn định biên ải cho triều Hán và Hung Nô, đồng thời còn truyền bá văn hóa Đại Hán.

Vào hai nghìn năm trước vùng đại mạc phương Bắc hãy còn hoang vu và lạnh giá, người Hung Nô khi ấy sống một cuộc sống du mục vốn lạc hậu hơn nhiều so với nhà Hán. Nơi này có gió bắc cuốn đất, cát bay che lấp mặt trời. Khi đến Hung Nô, đối mặt với hoàn cảnh sống gian khổ và khác biệt lớn về phong tục tập quán, Chiêu Quân vẫn giữ được tấm lòng vì đại nghĩa, kiên định với sứ mệnh của mình. Nàng buông nỗi nhớ quê hương và những niềm riêng xuống, lấy dũng khí, nghị lực phi thường và tấm lòng thiện lương để hòa nhập vào đời sống của dân tộc Hung Nô. Từ một cung nữ bình thường trong hậu cung nhà Hán nàng trở thành vị vương hậu hiền lương nhân đức trong lòng nhân dân Hung Nô, phò trợ hai đời thiền vu.

Không phụ sự ủy thác của Hán thất Chiêu Quân khổ nhẫn gánh vác trách nhiệm. Sống ở Hung Nô hơn 60 năm, cả đời nàng đều nỗ lực vì sự yên bình cho biên giới giữa nhà Hán và Hung Nô, cũng như vì sự phát triển của dân tộc Hung Nô. Về sau khi Chiêu Quân mất, bên bờ sông Đại Hắc, người Hung Nô đã dựng cho nàng nấm mộ “thanh trũng” (mồ xanh) (2). Giữa vùng đại mạc phương Bắc, nàng được coi là vị nữ thần do thiên thượng phái đến để giúp đỡ người Hung Nô, tương truyền rằng nơi nào nàng đi qua, nguồn nước đều sẽ dồi dào, cỏ cây nơi ấy cũng trở nên tươi tốt.

“Nhất khứ tử đài liên sóc mạc, Độc lưu thanh trủng hướng hoàng hôn” (khi nàng ra đi, tử đài (3) liền với hoang mạc, nay chỉ còn lại phần mộ xanh phía hoàng hôn, Đỗ Phủ). Qua các triều đại, vô số văn nhân mặc khách đã viết nên những áng văn thơ thương xót hoặc ca ngợi Vương Chiêu Quân. Nhà thơ Uông Tuân thời Đường trong bài Chiêu Quân đã ca ngợi công lao to lớn của nàng như sau:

Hán gia thiên tử trấn hoàn doanh, 
Tắc Bắc Khương Hồ vị bãi binh. 
Mãnh tướng mưu thần đồ tự quý, 
Nga mi nhất tiếu tái trần thanh.

Diễn nghĩa: 

Thiên tử nhà Hán trấn giữ bốn cõi, 
Người Khương Hồ đất Tắc Bắc vẫn mãi chưa ngừng binh đao.
Mãnh tướng, mưu thần đều tự cho mình cao quý  
Một nụ cười của giai nhân đã khiến bụi chiến nơi biên ải tan sạch.

Vương Chiêu Quân đã hy sinh hạnh phúc một đời mình để đổi lấy nửa thế kỷ hòa bình và thịnh vượng cho vùng biên giới Hán – Hung. Vì vậy, nàng đã được ban tặng mỹ hiệu “lạc nhạn”,  danh tiếng sánh ngang với Tây Thi trầm ngư, Điêu Thuyền bế nguyệt, Dương Quý Phi tu hoa, trở thành một trong tứ đại mỹ nhân của Trung Quốc. Danh tiếng của nàng lưu truyền muôn thuở, qua bao năm tháng trên sử xanh vẫn hãy còn vang.

Ghi chú: 

(1) hoàn bội: vòng đeo tay

(2) mộ Vương Chiêu Quân ở huyện Quy Tuy, tỉnh Tuy Viễn. Theo truyền thuyết miền này cỏ đều bạc trắng, riêng cỏ mọc trên mộ Chiêu Quân là màu xanh, nên gọi là thanh trủng.

(3) tử đài: đài màu tía, ý chỉ nơi vua ở

Nguồn: shenyuncollections.com