Thiên Kỷ Đại Cát

Câu chuyện về những tên gọi khác của Tết Trung thu

01 tháng 09 2026
THIÊN KỶ ĐẠI CÁT

Lịch sử đằng đẵng nghìn năm tựa một khúc trường ca, mà câu chuyện về Tết Trung thu lại như những nốt nhạc du dương trong bản trường ca ấy. Dẫu năm tháng xoay vần, các triều đại luân phiên thay đổi, nhưng cho đến hôm nay, con người vẫn không ngừng viết tiếp bản nhạc tưởng chừng như không có hồi kết này. Nếu vầng trăng hôm nay từng chiếu rọi người xưa, vậy thì chúng ta hãy cùng nhìn lại quá khứ và khám phá nguồn gốc của Tết Trung thu thông qua những tên gọi khác nhau của nó.

Nguyệt tịch 

Thành ngữ hoa triêu nguyệt tịch (hoa nở sớm mai trăng soi buổi tối) đầy chất thơ ngày nay thường được dùng để miêu tả cảnh sắc tươi đẹp và những tháng ngày tốt lành. Tuy nhiên vào thời cổ đại, từ này lại dùng để chỉ hai ngày xuân phân và thu phân theo nông lịch. Vậy tại sao từ “nguyệt tịch” lại được dùng để gọi ngày Tết Trung thu? Thực ra, từ này có nguồn gốc từ Lễ Ký, một bộ sách được biên soạn vào thời nhà Chu. Câu “Thiên tử xuân phân triêu nhật, thu phân tịch nguyệt” có nghĩa là thiên tử vào ngày xuân phân tế lễ thần Mặt Trời, vào ngày thu phân tế lễ thần Mặt Trăng. Thời Trung Quốc cổ đại, nông nghiệp là việc lớn liên quan trực tiếp đến đời sống của bách tính. Nhiệm vụ hàng đầu của bậc đế vương chính là thuận theo thiên thời, dẫn dắt dân chúng cày cấy, lao động. Sinh kế của người dân phụ thuộc vào việc bốn mùa mưa thuận gió hòa, mà sự vận hành của Mặt Trời và Mặt Trăng cũng gắn bó mật thiết với sự biến đổi của bốn mùa. Vì vậy, các bậc đế vương thời xưa muốn trị vì thiên hạ thì ắt không thể quên cầu xin sự phù hộ của các vị thần Mặt Trời và Mặt Trăng.

Đến thời nhà Đường, ngày rằm tháng tám, khi mặt trăng tròn nhất, bắt đầu được xác định là Tết Trung Thu, nhằm phân biệt với ngày thu phân. Sách cổ chép rằng: “Ngày 15 tháng 8 là Tết Trung Thu. Ngày này vừa đúng giữa ba tháng mùa thu, nên gọi là ‘Trung Thu’. Đêm ấy ánh trăng sáng hơn ngày thường bội phần, nên còn được gọi là ‘nguyệt tịch’”. Cũng từ đó nguyệt tịch từ ý nghĩa về nghi lễ tế thần Mặt Trăng dần phát triển thêm nội hàm về lễ hội thưởng nguyệt, vui đón trăng.

Lễ bái nguyệt

Thơ Đường có câu: “Vạn cổ Thái Âm tinh, Trung thu hải thượng sinh” (sao Thái Âm muôn thuở, Trung thu mọc lên từ trên biển cả). Vào thời xưa, đôi khi người ta gọi mặt trăng là sao Thái Âm. Thần Thái Âm được xem là vị thần bảo hộ cho nữ giới. Hình ảnh các thiếu nữ ngây thơ, hồn nhiên thành kính tế bái Nguyệt thần dưới ánh trăng từng là một trong những cảnh sắc đặc biệt nhất của Tết Trung thu thời cổ đại. Họ sẽ bày đủ loại bánh trái, hoa quả lên bàn cúng, rồi dưới ánh trăng thắp hương cầu nguyện, thành tâm quỳ bái, cầu xin Nguyệt thần phù hộ. Tục bái Mặt Trăng đã trở nên thịnh hành vào thời Thịnh Đường. Tuy nhiên, từ trước thời Thịnh Đường, tục nữ tử bái nguyệt đã rất phổ biến, vì thế mới lưu truyền những câu chuyện như “Vô Diệm nữ bái nguyệt” (1) và “Điêu Thuyền bái nguyệt”.

Ở một số nơi, Tết Trung thu còn được gọi là Tết nữ nhi, điều này có liên quan mật thiết đến tập tục phụ nữ bái Mặt Trăng. Việc đó cũng có nghĩa rằng trong dân gian, nam giới không được tham gia nghi thức bái nguyệt của nữ giới. Bởi theo quan niệm âm dương hữu biệt, nam giới nếu bái nguyệt không những không nhận được sự phù hộ, mà còn có thể chuốc lấy vận rủi suốt cả một năm.

Hội chơi trăng

Bắt đầu từ thời nhà Tống, Trung thu chính thức trở thành một ngày lễ để mọi người tổ chức yến tiệc, vui chơi, ăn mừng. Theo ghi chép trong sách Đông Kinh Mộng Hoa Lục và Võ Lâm Cựu Sự, vào dịp Trung thu thời nhà Tống, lệnh cấm đi lại ban đêm được bãi bỏ, người dân có thể thỏa sức vui chơi, du ngoạn suốt đêm cho đến tận sáng.

Trong đêm Trung thu, những chiếc hoa đăng với đủ hình dáng khác nhau soi sáng phố chợ rực rỡ như ban ngày. Các cửa tiệm và hàng quán nơi đầu đường cuối ngõ đều vô cùng tấp nập. Trong các tửu lâu, người ta phục vụ món ăn với những con cua mùa thu mập mạp nhất cùng rượu hoa quế thơm nức mũi. Trẻ nhỏ vây quanh những người bán hàng rong, tranh nhau ngắm nhìn đủ thứ đồ chơi có hình thù kỳ lạ. Lại có hàng vạn ngọn thủy đăng theo dòng sông chầm chậm trôi đi, trông cứ một dải thiên hà sáng lấp lánh. 

Dưới thời Tống, kinh tế Trung Quốc phát triển phồn thịnh, các loại hàng hóa và thực phẩm đều hết sức phong phú. Từ “bánh Trung thu” (nguyệt bính) cũng lần đầu tiên được ghi chép vào các thư tịch thời Nam Tống. Tô Thức từng viết câu thơ: “Tiểu bính như tước nguyệt, trung hữu tô hòa di” (bánh nhỏ như thưởng thức trăng, bên trong có bơ và đường mật). Người xưa yêu thích vầng trăng tròn trên trời, nhưng lại không thể hái xuống để thưởng ngoạn. Vì thế, họ đã làm ra những chiếc bánh mềm mang hình dáng vầng trăng tròn, khi cầm trong tay, cắn một miếng, vị ngọt thấm vào tận tâm can, niềm vui cũng theo đó mà hiện lên nơi khóe mắt.

Tết đoàn viên

“Trăng có khi mờ khi tỏ, khi tròn khi khuyết, con người có vui buồn ly hợp” (2), câu thơ này của Tô Thức đã nói lên tiếng lòng của tất cả mọi người, vì thế mà trở nên vô cùng phổ biến và được lưu truyền rộng rãi. Từ thời Đường, Tống trở đi, các văn nhân đã viết nên vô số bài thơ, bài từ vào dịp Trung thu để gửi gắm nỗi nhớ quê hương, đồng thời thể hiện niềm mong ước trăng tròn người đoàn viên. Từ đó Tết Trung thu cũng dần phát triển thêm một tên gọi khác quan trọng nhất: Tết Đoàn viên. Nội hàm đoàn viên của ngày lễ này vẫn được lưu truyền đến ngày nay. Vào đêm này, vầng trăng sáng trên trời từ khuyết dần chuyển sang tròn đầy, dường như đang nhắc nhở con người hãy tạm gác lại những việc bận rộn, trở về nhà cùng người thân vui vầy trong ngày lễ. 

Vào ngày Tết Trung thu, nếu những đứa con xa xứ không thể trở về quê hương đã xa cách bấy lâu, thì có lẽ ngay cả vầng trăng sáng trên trời cũng cảm thấy tiếc nuối thay cho họ! Nếu bạn đang ở nơi đất khách quê người, đừng quên gửi những lời chúc ấm áp đến gia đình nhé! 

Trong dịp Trung thu, hãy gửi đến gia đình và bạn bè của mình một phần tâm ý ấm áp! 

Ghi chú:
(1) tức Chung Vô Diệm, một trong tứ đại xú nữ của Trung Quốc
(2) nguyên gốc “Nhân hữu bi, hoan, ly, hợp, Nguyệt hữu âm, tình, viên, khuyết”, là hai câu thơ trong bài Thuỷ điệu ca đầu rất nổi tiếng của Tô Thức